Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

những cách chọn lựa dây dẫn âm thanh mà có khả năng chưa bao giờ bạn biết



CẤU HÌNH CỦA DÂY
Cách sắp xếp các chất dẫn điện , chất cách điện và đầu cắm trong dây sẽ làm nên cấu hình dây dẫn. đối với 1 số công ty , cấu hình dây dẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc thiết kế dây, hơn cả vật liệu của chất dẫn điện và kiểu dáng dây.
1 Giả dụ chứng tỏ cấu hình có các tác động đến sự trình diễn của dây  đó là thay vì chạy hai dây truyền điện song song với nhau thì ta xoắn chúng lại với nhau một cách đơn điệu . Việc xoắn lại sẽ giúp giảm đáng kể điện dung & trở kháng trong dây. Cấu hình mà trong đó hai dây dẫn mắc song song với giống như sơ đồ của 1 tụ điện có hai dây chạy song song với nhau.
đa số các nhà thiết kế dây đều bạc hoặc đồng ý rằng sự tương tác giữa một số sợi dẫn hay còn gọi là hiệu ứng mặt ngoài (skin effect) là nguyên do chính làm đi xuống chất lượng cao âm thanh của dây. 1 dây dẫn có hiệu ứng mặt ngoài cao thì tín hiệu tần số cao  loa cột toa tz 205 sẽ di chuyển nhiều ở phía bề mặt của dây & ít đi dần ở phần giữa của dây. Vấn đề này xảy ra trong tất cả chất dẫn điện sử dụng dây cứng hoặc nhiều dây nhỏ tạo nên . Hiệu ứng mặt ngoài làm thay đổi đặc tính của dây ở những độ sâu không giống nhau và điều này làm ảnh hưởng đến những tần số khác nhau của tín hiệu âm thanh. Âm thanh tạo ra bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng mặt ngoài sẽ mất đi độ chi tiết, độ thoáng ở quãng tám cao nhất và độ sâu của màn âm thanh.
Kỹ thuật xử lý “hiệu ứng mặt ngoài” là dùng kết cấu litz, loại kết cấu mà trong đó mỗi tao dây nhỏ trong nhóm dây được phủ lên 1 lớp chất cách điện để ngăn chúng khỏi sự tiếp xúc điện với các tao dây khác xung quanh. Mỗi tao dây nhỏ trong kết cấu litz này gần như tương bạc hoặc đồng nhau về mặt điện tính. những tao dây này sẽ làm cho các vấn đề do hiệu ứng mặt ngoài gây cho âm thanh ra không thể bị nghe thấy bởi tai. bởi tại những tao dây rất mảnh nên chúng sẽ được bó lại với nhau theo một trật tự khá tự do để tạo thành một lõi dây đủ mức lớn để có được điện trở thấp.
các dây có kết cấu chất dẫn điện bao gồm nhiều tao dây nhỏ nếu không dùng kết cấu litz có thể gặp phải hiện tượng tín hệu “nhảy” từ sợi này sang sợi khác khi dây được xoắn lại. Khi dây xoắn lại 1 tao dây sẽ nằm phía ngoài 1 điểm trên dây và sau đó sẽ nằm phía trong điểm đó nhưng ở một vị trí thấp hơn. Do “hiệu ứng mặt ngoài”, tín hiệu có xu hướng chạy ở một số điểm phía ngoài của tao dây và khiến cho chúng nhảy qua những tao dây khác. Rất giống với cấu tạo dạng thớ trong dây đồng hoặc bạc bề mặt của mỗi tao dây cũng họat động như 1 mạch nhỏ với điện dung và hiêu ứng của một diode,
một số tao dây riêng biệt trong một nhóm dây cũng có thể sinh ra từ trường và những từ trường này tương tác với nhau. bất cứ khi nào dòng điện đưa vào dây thì từ trường sẽ được hình thành xung quanh dây. Nếu là dòng điện 2 chiều thì từ trường của những tao dây tạo ra sẽ dao động tương tự nhau. Từ trường này có khả năng gây tác động đến tín hiệu trên những nhóm dây liền kề & do vậy làm giảm chất lượng âm thanh của dây. 1 số cấu hình dây có khả năng làm đi xuống sự tương tác từ trường này bằng phương pháp sắp xếp một số tao dây bao xung quanh 1 chất cách điện được đặt ở giữa giúp cách chúng ra với nhau.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA DÂY DẪN
Có khá nhiều các quảng cáo thổi phồng và chỉ là một số thông tin sai lệch về dây dẫn. các công ty đôi khi cảm thấy bắt buộc phải phát minh ra một nguyên nhân kỹ thuật nào đó để giải thích tại sao dây của họ nghe tuyệt vời hơn các đối thủ cạnh tranh. trên thực tế , thiết kế dây là 1 1 nghệ thuật “ khá bí ẩn” với những kiểu dáng đẹp mắt bên ngoài nhưng khi nghe kỹ lại có rất nhiều một số vấn đề phiền phức và lỗi kỹ thuật. mặc dù là một số chất dẫn điện , chất cách điện & cấu hình dây cụ thể có một số đặc điểm âm thanh riêng biệt nhưng những thiết kế dây được coi là đạt không có khả năng chỉ được diễn đạt bởi những thuật ngữ kỹ thuật. điều này lý giải vì sao không nên chọn dây mà chỉ phụ thuộc vào các thông số và mô tả kỹ thuật của dây.
Mặc dù vậy trong một số trường hợp cũng bắt buộc phải lưu ý đến 3 thông số kỹ thuật có liên quan đến dây đó là: điện dung, độ tự cảm & trở kháng.
Điện trở của dây, thường được gọi là điện trở dòng điện 1 chiều, là sự đo lường mức độ cản trở dòng điện đi qua dây. Đơn vị đo của điện trở là ohm. Ohm càng thấp thì sự cản trở dòng điện của dây càng thấp. Điện trở không phải là yếu tố tác động đến sự trình diễn của dây nguồn tín hiệu (trừ một số loại dây mới không mang tính kim lọai), nhưng lại tác động đến một số dây âm thanh nhất là các dây mảnh do các dây âm thanh bắt buộc phải truyền đi dòng điện có cường độ cao.
Âm thanh của dây có thể bị tác động bởi độ tự cảm của dây. Độ tự cảm của dây càng bé thì càng tuyệt vời , đặc biệt là ở trong dây âm thanh . Mặc dù vậy một vài ampli a2060 toa  công suất bắt buộc phải có 1 mức độ tự cảm quan trọng để có khả năng hoạt động khá tôt, nhiều ampli khác thì có phần cảm điện đầu ra được gắn vào các trạm cắm của loa (bên trong các chassis). Khi tính độ tự cảm quan trọng cho ampli amply toa 2120  sức mạnh thì bắt buộc phải cộng cả trở kháng của dây vào độ tự cảm của loa.

Điện dung là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến dây tín hiệu , nhất là là khi cần phải chạy dây tín hiệu dài hoặc là khi thiết bị nguồn có trở kháng đầu ra cao. Điện dung của dây nguồn tín hiệu được đo bằng số picofarads/foot (1foot = 0,3048m). Điều cần quan tâm không phải là điển trở bên trong của dây mà là tổng  điện dung gắn vào thiết bị nguồn. Giả sử , một dây tín hiệu dài 5 feet có điện dung 500pF sẽ có tổng điện dung bằng với dây có chiều dài 50 feet với điện dung là 50pF. Điên dung trong dây tín hiệu cao sẽ khiến cho âm treble bị mất đi và dải động bị giảm bớt .

0 nhận xét:

Đăng nhận xét